Thịt nhập giá rẻ tăng mạnh, người chăn nuôi trong nước chịu thêm áp lực
Không chỉ giá rẻ, thịt nhập khẩu còn đáp ứng nhu cầu về sự tiện lợi, sơ chế và bảo quản. Ở chiều ngược lại, người chăn nuôi trong nước đứng trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Thói quen dùng “thịt nóng” đang dần thay đổi
Theo số liệu của Cục Hải quan, 7 tháng đầu năm, Việt Nam nhập 595.700 tấn thịt và sản phẩm từ thịt trị giá hơn 1,7 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và 32,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Thịt gà, thịt heo và thịt trâu là những sản phẩm nhập khẩu chủ yếu trong nhóm này. Một số chuyên gia cho rằng, trong khi nhu cầu về thịt không tăng trưởng nhưng sự gia tăng mạnh về số lượng thịt đông lạnh nhập khẩu thể hiện sự dịch chuyển trong thói quen của người tiêu dùng.
Ông Nguyễn Trí Công - Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cho rằng, trước đây ngành chăn nuôi trong nước có lợi thế từ thói quen của người tiêu dùng khi phần lớn vẫn ưu tiên “thịt nóng”, thịt tươi giết mổ trong ngày.

Tuy nhiên, lựa chọn này đang có những thay đổi khi thịt mát và thịt nhập khẩu ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên thị trường.
Không chỉ có lợi thế về giá, theo ông Công, thịt nhập khẩu còn đáp ứng một số yêu cầu về sơ chế, cắt khúc và bảo quản, phù hợp với hoạt động chế biến và cách tiêu dùng tại các đô thị.
“Lợi thế về sở thích dùng thịt nóng của ngành chăn nuôi trong nước đang bị đe dọa nghiêm trọng khi ngày càng nhiều người chuộng hàng đông lạnh vì giá rẻ và dễ bảo quản”, ông Công nhận định.
TS Nguyễn Xuân Dương - Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cũng cho rằng dù nguồn cung trong nước có dấu hiệu dư thừa, thịt nhập khẩu vẫn tìm được đầu ra tại nhiều kênh tiêu thụ và được thị trường đón nhận. Điều này đặt ra câu hỏi về nghịch lý trong ngành chăn nuôi hiện nay. Nguồn cung trong nước dồi dào và thị trường còn phải cạnh tranh với các lô thịt gia cầm đông lạnh nhập khẩu, chủ yếu là đùi và cánh gà, với giá thấp.
Ông Dương cho rằng, giá các sản phẩm nhập khẩu thường thấp hơn khoảng 30-40% so với giá gà tươi xuất chuồng, tạo ra áp lực không chỉ về bài toán tiêu thụ mà còn về việc giảm giá thành và tìm kênh tiêu thụ mới cho chăn nuôi trong nước.
Giá nguyên liệu tăng liên tiếp, nông dân không dám tái đàn
Trong khi người tiêu dùng có thêm lý do để lựa chọn thịt nhập khẩu, người chăn nuôi trong nước lại đang phải đối mặt với bài toán ngược lại: Giá thành sản xuất ngày càng khó giảm.
Từ đầu tháng 9 đến nay, nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi lớn đã thông báo điều chỉnh tăng giá bán. Mức tăng phổ biến từ 200 đồng/kg, một số sản phẩm tăng cao hơn, cao nhất lên tới 1.500 đồng/kg. Với một số doanh nghiệp, đây là lần tăng giá thứ 6 trong năm.

Ông Nguyễn Văn Ngọc - Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ thẳng thắn nhận định, trong khi giá thịt gà nhập khẩu ngày càng rẻ, bà con chăn nuôi trong nước đang phải “đánh vật” từng ngày với giá thức ăn chăn nuôi.
Theo ông Ngọc, nếu như trước đây, chi phí thức ăn chiếm khoảng 60-65% chi phí giá thành chăn nuôi thì nay, giá cám tăng khiến tỉ lệ này đã tăng lên trên 70%.
Ông Ngọc tính, một con heo trong cả vòng đời có thể tiêu tốn khoảng 260-270 kg thức ăn. Với mức tăng 1.500 đồng/kg như thời gian qua, riêng chi phí thức ăn cho một con heo đạt 100kg hơi để xuất chuồng đã tăng thêm từ 390.000-405.000 đồng.
Đối với gà lông màu, ngoài tiền con giống 15.000 đồng/con, người nuôi còn phải chi cho thức ăn, thuốc thú y, vaccine, điện, nước, nhân công và các khoản khác.
Tổng chi phí giá thành của một con gà xuất chuồng trọng lượng khoảng 2,4 kg hiện ở mức gần 150.000 đồng. Trong khi đó, giá gà thịt hiện khoảng 50.000-55.000 đồng/kg.
“Với giá bán này, nông dân đang phải lỗ ít nhất 30.000 đồng cho mỗi con gà xuất chuồng. Nhiều trại đang không dám tái đàn, vì tái đàn là cầm chắc lỗ vốn”, ông Ngọc cho biết.
Theo ông Ngọc, một số trang trại đang tự phối trộn thức ăn thay vì sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp. Nếu thực hiện tốt, chi phí thức ăn có thể giảm từ khoảng 14.000 đồng/kg xuống 11.700-12.000 đồng/kg.
Tuy nhiên, phương án này không đồng nghĩa người nuôi có thể tách khỏi biến động của thị trường nguyên liệu. Ngô, bột cá, khô đậu tương và nhiều nguyên liệu khác vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
“Vấn đề hiện nay của chăn nuôi là phải tiếp tục nâng năng suất, đồng thời giảm chi phí nguyên liệu đầu vào. Hai yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản xuất”, ông Ngọc nói.

Ở khâu đầu ra, ông Ngọc cho rằng, thịt gia cầm nhập khẩu giá thấp đang có lợi thế tại một số đô thị lớn, cơ sở chế biến, suất ăn công nghiệp và chuỗi thức ăn nhanh. Đây cũng là những kênh tiêu thụ mà người chăn nuôi nhỏ lẻ trong nước khó tiếp cận, cần tìm phương án cải thiện trong thời gian tới.
Còn theo TS Nguyễn Xuân Dương, ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết về việc điều tiết quy mô đàn, cùng với đó là siết chặt quản lý hạn ngạch, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thịt nhập khẩu.
“Cũng cần đẩy mạnh chế biến sâu và xây dựng các vùng an toàn dịch bệnh để mở rộng cửa xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường Halal, Nhật Bản và Đông Nam Á, tạo thêm thị trường cho thịt heo, thịt gà nội địa”, ông Dương nhận định.
Nguồn : dantri





